GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÊM VỀ ‘‘VĨNH PHƯỚC TỰ’’

Dưới thời các chúa Nguyễn, việc xây dựng tu sửa các chùa chiền diễn ra liên tục. Đến thời các vua Nguyễn sự phát triển của nho giáo, song song với các hoạt động này thì vai trò của các ngôi chùa làng trở thành một loại tôn giáo được người dân ưa chuộng. Do vậy chùa Vĩnh Phước ở Lý Hòa cũng ra đời trong thời điểm ấy.
 
Theo tư liệu thì trước đây (vào khoảng 1738), chùa được làm bằng tranh, đến thời vua Gia Long chùa đã được xây dựng bằng gạch, vôi, lợp ngói. Ngày nay dấu tích còn lại của chùa là cái cổng Tam Quan đề “Vĩnh Phước tự”. Vị trí của chùa ở vào đầu làng xung quanh là nhiều cây cối rậm rạp, không khí tĩnh mịch. Năm Bính tý (1936) mới dựng thêm một cái lều để các đạo hạnh sư ở. Trong chùa thờ “Tam thế thờ Phật” ở giữa thờ Phật “Thích Ca Mâu Ni” Hai bên tả hữu thờ “Văn thư Bồ Tát”. Ở ngoài cùng thờ “Đức quan thế âm Bồ Tát”. Hai bên phía trong thờ “Đại Trung Vương” và “Quan Thánh Đế quan”. Sát hai bên là “Thập điện Minh Vương” có minh họa các hình phạt mà các tội nhân phải chịu xử ở địa ngục. Sát cổng ra vào là hai bức tượng “hộ pháp”. Năm 1938 (Mậu Dần) xây thêm cái bệ thờ “Đức Thánh quancông” ở bên phải.
Trong chùa có một cái chuông (cư dân gọi là boong) đề “Lý Hòa chung tự” bằng đồng. Bài tựa khắc tên chuông kín cả 4 mặt miêu tả lại cảnh quan chùa, năm xây dựng, đúc chuông, những người công đức đóng góp tiền của làm chuông. Sau này chuông đã bị bom phá vỡ một mảng. Bài tựa bằng chữ Hán bị nhiều vết xước, có dòng chữ nhưng vẫn còn nguyên dòng chữ “Nguyễn triều Gia Long vạn vạn niên chi thập bát”, chuông được làm từ năm Gia Long thứ 18 (1819). Điều đó chứng tỏ phật giáo ở Lý Hoà từ trước đó đã rất thịnh hành, chùa rất khang trang, các vị sư sẽ không ngừng tụng niệm mà còn dạy chữ Hán. Rất tiếc là các phủ ý, tài liệu về chức năng này, hiện còn ở làng Qui Đức chúng tôi chưa tra cứu được. Một ít phủ ý nói lên rằng cư dân ở nơi xa về đều đến chùa lễ phật, đặc biệt là 2 ngày lễ chính 08 tháng 04 và 02 tháng 12 là ngày vía sinh và vía tử phật thích ca. Tương truyền rằng: “Tiếng chuông chùa rất trong và to vang dội cả một vùng, thời kỳ giặc Tàu Ô lảng vảng ngoài biển thì dân làng đem giấu xuống vùng đất ngập mặn trước cửa chùa. Sau khi vớt lên thì không còn ngân trong và xa như trước nữa”.
Tác giả bài viết: Trần Đức Sáng (Cương Gián)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *